Đông trùng hạ thảo (Nghiên cứu của GS. Đỗ Tất Lợi)

dong-trung-ha-thao

(Trích từ sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Giáo sư Đỗ Tất Lợi)

Đông trùng hạ thảo còn gọi là trùng thảo, hạ thảo đông trùng.

Tên khoa học là Cordyceps sinensis (Berk) Sacc.

Thuộc bộ Nang khuẩn Ascomycetes họ Nhục tòa khuẩn Hypocreaceae.

Tên Đông trùng hạ thảo vì vị thuốc này mùa đông là con sâu, mùa hạ lại thành cây cỏ. Sách cổ coi đông trùng hạ thảo bổ ngang nhân sâm.

Mô tả Đông trùng hạ thảo.

Đông trùng hạ thảo của Trung Quốc (Cordyceps) là một giống nấm mọc ký sinh trên sâu non của một loại sâu thuộc họ sâu Cánh bướm. Nấm và sâu hợp sinh với nhau. Vào mùa đông, con sâu non nằm ở dưới đất, nấm phát triển vào toàn thân con sâu để hút chất trong con sâu làm cho con sâu chết. Đến mùa hạ, nấm sinh cơ chất (stroma) mọc chồi khỏi mawtjd dấy, nhưng gốc vẫn dính liền vào đầu sâu, đào lấy tất cả xác sâu và nấm mà dùng.

Vị thuốc bao gồm cả nấm và sâu, hái vào tháng 6 -7. Rửa sạch, phơi khô, phun rượu vào rồi phơi khô hẳn. Bó thành từng bó 10 -15 con một. Ngang chỗ nấm, người ta buộc sợi chỉ đỏ trông rất đẹp.

Vị thuốc như vậy gồm có phần sâu non dài 2,5 – 3 cm, đường kính 3-5 mm, màu vàng nâu hay xám nâu. Từ đầu con sâu mọc ra một thân nấm hình trụ đặc biệt có khi 2 hay 3 con sâu. Thân nấm thường dài 3-6 cm, đặc biệt có thể dài 11 cm. Phía dưới thân nấm có đường kính 1,5 – 4 mm. Phía trên to phình ra, cuối cùng lại thon nhọn, cả phần này dài 10 – 45 mm, đường kính 2,5 – 6mm. Nếu còn non thì đặc, nếu già thì thân rỗng. Dùng kính hiển vi, ta sẽ thấy phần phình to này có vỏ sần sùi, có những hạt nhỏ tức là tử nang mang xác nổi lên. Phần đầu thon nhọn không mang tử nang xác và dài từ 0,5 – 3,5 mm.

Tử nang sách đường kính dài hay hơi tròn. Trong tử nang xác có chứa các nang hình sợi có cuống ngắn. Trong nang có nhiều nang bào tử có nhiều vách ngăn riêng biệt.

Tại Trung quốc, Đông trùng hạ thảo thường gặp ở những rừng ẩm ướt, các tỉnh Tứ Xuyên, Vân Nam, Tây Khang, Tây Tạng, nhiều nhất ở Tứ Xuyên và Tây Khang.

Qua sự phân bố ở Trung Quốc, chúng ta chú ý phát hiện tại một số rừng ẩm ướt ở các tỉnh biên giới

Thành phần hóa học của Đông trùng hạ thảo

Trong Đông trùng hạ thảo người ta lấy được chừng 7% một loại axit đặc biệt gọi là axit cocdixepic 3-4-5 tetraoxyhexahydrobenzoic. Nhưng các chất khác và hoạt chất chưa được biết. Đông trùng hạ thảo chứa 25-32% protit. Khi thủy phân cho axit glutamic, prolin, histidin, valin và oxyvalin, acginin và alanin. Ngoài ra còn có 8,4% chất béo trong đó axit béo no chiếm 13%, axit không no chiếm 82,2% (axit linolic 31,68%, axit linilenic 68,31%).

Ngoài ra người ta còn chiết được axit cordycepic chứng mình là D –mannitol.

Tác dụng dược lý của Đông trùng hạ thảo

Đông trùng hạ thảo đã được Brewster và Aisberg nghiên cứu từ năm 1917. Theo tác giả này thì tiêm mạch máu hoặc dưới da thuốc đông trùng hạ thảo vào thỏ hoặc chuột nhắt trắng thì thấy hiện tượng ức chế, liều lớn tăng hô hấp và mạch đập nhanh hơn rồi con vật quằn quại mà chết. Thuốc chế bằng rượu không có tác dụng gì đối với thỏ.

Năm 1952, Trịnh Phi Vũ và Trịnh Táo Kiệt nghiên cứu thấy Đông trùng hạ thảo có tác dụng ức chế với một số vi trùng.

Năm 1958 hai tác giả Trung Quốc Trương Sỹ Thiện và Trương Bá Thạch có nghiên cứu kỹ tác dụng của Đông trùng hạ thảo và đã đi đến một số kết luận sau đây:

a) Nước sắc Đông trùng hạ thảo có tác dụng ức chế đổi với tim cô lập và tại chỗ của ếch, cung như đối với tim cô lập của thỏ. Tim đập chậm lại, nhưng sức bóp không tăng. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Trịnh Táo Kiệt, nhưng ông này cho rằng nếu lượng chất dầu béo trong Đông trùng hạ thảo cao thì gây ức chế, ngược lại, nếu tỷ lệ dầu béo thấp thì lúc đầu có hiện tượng ức chế một thơi gian rất ngắn rồi mới đến hiện tượng hưng phấn.

Đối với tim cô lập của thỏ. Thuốc Đông trùng hạ thảo làm tăng rõ rệt lượng huyết của tim

Các kết quả trên phù hợp với kinh nghiệp cổ truyenf của nhân dân nói rằng Đông trùng hạ thảo chữa khỏi bệnh đau tim

b) Đối với huyết áp: Kết quả thí nghiệm trên chó gây mê cho thấy nếu tiêm tĩnh mạch với liều 0,1 – 0,5 ml hoặc 1ml/kg thể trọng đều thấy huyết áp hạ xuống rõ rệt, 10 phút sau huyết áp trở lại bình thường. Tuy nhiên cho uống hoặc tiêm vào bụng với liều 2ml/kg thể trọng thì không thấy ảnh hưởng đối với huyết áp. Do đó tác dụng đối với huyết áp chưa thể kết luận được.

c) Đối với khí quản (ống phổi): Thí nghiệm trên phổi và khí quản của chuột bạch, thấy thuốc Đông trùng hạ thảo làm dãn khí quản nếu phối hợp với hoạt chất của thượng thận thì tác dụng của hoạt chất thượng thận lại tăng nên rõ rệt.

Kết quả thí nghiệm này phù hợp với công dụng chữa ho, tiêu đờm, bảo vệ phổi của kinh nghiệm cổ truyền.

d) Đối với mẩu ruột và tử cung cô lập: Tác dụng ức chế rõ rệt

e) Độc tính của thuốc: Độ độc của thuốc hết sức khấp, với liều 5g/kg chuột bạch, chuột không có hiện tượng ngộ độc nào. Với liều 10 -20 kg thể trọng một phần chuột thí nghiệm bị chết, với liều 30 – 50g/kg thể trọng toàn số chuột thí nghiệm bị chết.

Triệu chứng ngộ độc của chuột như sau: Sau khi tiêm thuốc 2 phút rưỡi, chuột không nhanh nhẹn, sau 4 phút hô hấp chậm và dài, thường từ 180 lần/phút giảm xuống 46 lần/phút; sau 6 phút rưỡi chân trước bị tê liệt có vẻ như muốn nhảy nhót, sau đó có hiện tượng co quắp, hô hấp bị ức chế rồi chết.

Với liều nhẹ, con vật có trạng thái trấn tĩnh với những trình độ khác nhau, có con vật buồn ngủ và tình trạng này kéo dài hàng vài giờ.

Công dụng và liều dùng

Đông trùng hạ thảo là một vị thuốc được ghi vào tài liệu thuốc đông y vào giữa thế kỷ 18 trong bộ Bản thảo cương mục thập di (1765).

Theo sách cổ ghi chép, đông trùng hạ thảo là một vị thuốc bổ, chữa thần kinh suy nhược, chữa ho, ho lao. Bổ tinh khí chữa đau lưng, bổ thận.

Liểu dùng: Ngày uống 6 – 12 g dùng với hình thức ngâm rượu uống.

Người ta cho rằng Đông trùng hạ thảo ngâm rượu uống chữa chứng đau lưng, mỏi gối, có tác dụng ngang với nhân sâm.

Theo tài liệu cổ, Đông trùng hạ thảo có vị ngọt, tính ôn, vào 2 kinh phế và thận. Có tác dụng ích phế, thận. Có tác dụng ích phế, thận, bổ tinh tủy, cầm máu, bổ đờm, dùng chữa hư lao sinh ho, ho ra máu, liệt dương, lưng gối đau mỏi, di tinh.

Các tin khác

Hỗ trợ trực tuyến

Tổng đài: 1800 6186
➥ Miền Bắc:  0904-658-182
➥ Miền Nam: 0904-602-357

Hội thảo